Con người có thật sự tự do lựa chọn không? Đây là câu hỏi triết học vẫn còn tranh luận, và chưa có câu trả lời được mọi người đồng ý. Có ba lập trường chính: mọi thứ đều đã được định sẵn bởi nguyên nhân trước đó, ta thật sự tự do vượt ra ngoài chuỗi nguyên nhân, hoặc tự do vẫn có nghĩa ngay cả khi mọi thứ đều có nguyên nhân. Chọn lập trường nào ảnh hưởng tới cách ta nghĩ về trách nhiệm.
Chào bạn, đây là Nhà Khai Phóng. Nghe thì trừu tượng, nhưng câu hỏi này chạm tới những chuyện rất đời: có nên trách một người nghiện, một đứa trẻ lớn lên trong gia đình bạo lực có trách nhiệm cho những gì nó làm không, và chính mình có thật sự chọn con đường mình đang đi không.
Câu hỏi bắt đầu từ đâu?
Thử nghĩ về một lựa chọn bạn đã làm sáng nay, chẳng hạn uống trà thay vì cà phê. Bạn cảm thấy mình đã chọn. Nhưng hãy lùi lại: vì sao bạn chọn trà? Có thể vì hôm qua ngủ ít, vì dạ dày hơi khó chịu, vì thói quen từ nhỏ ở nhà bà.
Mỗi lý do ấy lại có nguyên nhân của nó. Gen di truyền, cách nuôi dạy, những gì đã xảy ra với bạn, tình trạng cơ thể lúc đó. Nếu lần ngược mãi, có vẻ như lựa chọn của bạn là kết quả của một chuỗi nguyên nhân dài mà bạn không chọn.
Vậy thì cái cảm giác mình đã chọn có phải là ảo giác không? Đó là cốt lõi của câu hỏi về tự do ý chí.
Câu hỏi này đã được bàn từ thời cổ đại, và mỗi thời đại lại khoác cho nó một chiếc áo mới: thời thì là định mệnh do thần linh, thời thì là quy luật vật lý, thời nay là não bộ và gen.
Ba lập trường chính
Lập trường thứ nhất gọi là tất định cứng. Mọi sự kiện, kể cả suy nghĩ và lựa chọn của ta, đều là kết quả tất yếu của những gì xảy ra trước đó. Tự do ý chí theo nghĩa thật sự chỉ là cảm giác. Người theo lập trường này thường kết luận rằng trách nhiệm đạo đức theo nghĩa đầy đủ cũng không tồn tại.
Lập trường thứ hai cho rằng ta có tự do thật sự, theo nghĩa vào lúc lựa chọn, ta có thể đã chọn khác, và lựa chọn không hoàn toàn bị quyết định bởi quá khứ. Khó khăn của lập trường này là giải thích sự tự do đó đến từ đâu, mà không biến nó thành sự ngẫu nhiên.
Lập trường thứ ba, được khá nhiều triết gia hiện nay chấp nhận, gọi là thuyết tương thích. Nó cho rằng tự do không có nghĩa là thoát khỏi nguyên nhân, mà là hành động theo lý do và mong muốn của chính mình, không bị ép buộc. Người bị dí dao vào cổ để ký giấy thì không tự do. Người ký vì đã suy nghĩ kỹ thì tự do, dù suy nghĩ đó có nguyên nhân.
Mỗi lập trường đều có những lập luận mạnh và những chỗ khó. Cuộc tranh luận vẫn đang tiếp tục.
Khoa học nói gì?
Có những thí nghiệm thần kinh học nổi tiếng cho thấy hoạt động não bắt đầu chuẩn bị cho một cử động đơn giản trước khi người tham gia báo là họ đã quyết định. Nhiều người đọc được tin này và kết luận ngay: vậy là tự do ý chí đã bị khoa học bác bỏ.
Nhưng kết luận đó quá vội. Chính giới nghiên cứu vẫn tranh cãi rất nhiều về cách hiểu những thí nghiệm này. Hoạt động não sớm đó có thật sự là quyết định, hay chỉ là sự chuẩn bị chung. Một cử động đơn giản như bấm nút có giống với những quyết định lớn như chọn nghề không.
Điều đáng nhớ là khoa học có thể cho ta biết nhiều về cơ chế của việc ra quyết định. Còn việc cơ chế đó có tương thích với tự do hay không lại là câu hỏi triết học, phụ thuộc vào việc ta hiểu tự do là gì.
Vì thế, khi đọc những tiêu đề kiểu khoa học chứng minh con người không có tự do, hãy nhớ bài học về đọc quá tiêu đề.
Vì sao câu hỏi này quan trọng với đời sống?
Nó ảnh hưởng tới cách ta trách người khác. Nếu hiểu rằng hành vi của một người chịu ảnh hưởng rất lớn từ hoàn cảnh họ không chọn, ta có thể bớt phán xét, nhiều thông cảm hơn. Đứa trẻ hay đánh bạn trong lớp có khi đang mang theo điều gì đó từ nhà.
Nhưng nó cũng không nên dẫn tới việc xoá bỏ trách nhiệm. Ngay cả người theo thuyết tương thích cũng giữ lại ý rằng ta có thể và nên chịu trách nhiệm cho những gì mình làm khi hành động theo lý do của chính mình. Trách nhiệm không chỉ để trừng phạt, mà để học hỏi và sửa chữa.
Nó cũng ảnh hưởng tới cách ta nhìn chính mình. Người tin mọi thứ đã định sẵn có thể buông xuôi. Người tin mình hoàn toàn tự do có thể tự trách quá mức cho những điều ngoài tầm tay.
Có lẽ một cách nhìn cân bằng là: hoàn cảnh ảnh hưởng tới ta rất nhiều, nhưng trong khoảng không gian còn lại, ta vẫn có thể suy nghĩ, cân nhắc và chọn lựa. Và chính việc học, việc đọc, việc suy nghĩ làm khoảng không gian ấy rộng thêm.
Tự do như một thứ có thể lớn lên
Đây là ý mình thích nhất khi nghĩ về câu hỏi này. Dù lập trường triết học của bạn là gì, rõ ràng có những người sống tự do hơn người khác theo nghĩa đời thường: họ hiểu rõ mình hơn, ít bị thói quen và cảm xúc nhất thời lái đi hơn, cân nhắc được nhiều lựa chọn hơn.
Một người chưa từng biết tới một con đường nào khác ngoài con đường gia đình vạch sẵn có ít lựa chọn hơn một người đã đọc, đã đi, đã gặp nhiều cách sống. Theo nghĩa đó, giáo dục khai phóng là một cách mở rộng tự do.
Nhận ra thói quen của mình, hiểu những gì đã hình thành nên mình, dừng lại một nhịp trước khi phản ứng, đều là những cách tập tự do.
Câu hỏi triết học lớn có thể chưa có đáp án. Nhưng câu hỏi nhỏ thì có: hôm nay, mình có thể làm gì để mình bớt bị lái đi một chút?
Câu hỏi thường gặp
Thuyết tất định là gì?
Là quan điểm cho rằng mọi sự kiện, kể cả suy nghĩ và hành động của con người, đều là kết quả của những nguyên nhân trước đó theo quy luật. Có nhiều phiên bản khác nhau, mạnh yếu khác nhau.
Nếu không có tự do ý chí thì có nên trừng phạt tội phạm?
Các triết gia trả lời khác nhau. Một số cho rằng hình phạt vẫn cần để bảo vệ xã hội và giúp người phạm lỗi thay đổi, dù không dựa trên ý đổ lỗi theo nghĩa đầy đủ. Đây là vấn đề còn tranh luận.
Thuyết tương thích hiểu tự do thế nào?
Tự do là hành động theo lý do, mong muốn và sự cân nhắc của chính mình, không bị ép buộc từ bên ngoài. Theo cách hiểu này, tự do và việc mọi thứ có nguyên nhân có thể cùng tồn tại.
Tôn giáo phương Đông nghĩ gì về tự do ý chí?
Các truyền thống phương Đông có những khái niệm riêng như nghiệp, duyên, mệnh, với nhiều cách hiểu khác nhau. Không nên đơn giản hoá chúng thành thuyết định mệnh.
Nói chuyện này với con tuổi mới lớn thế nào?
Có thể bắt đầu từ câu hỏi con có thật sự chọn món ăn yêu thích không, hay vì quen từ nhỏ. Con tuổi này thường rất thích những câu hỏi lớn, miễn là được nghe và không bị phán xét.